Bình Thủy Long Tuyền, một vùng địa linh nhân kiệt

ĐỊA DANH BÌNH THỦY - LONG TUYỀN

Theo liên tỉnh lộ 27 đi Long Xuyên, cách thành phố Cần Thơ khoảng 5 cây số về phía Tây Bắc, chúng ta sẽ gặp một cây cầu đúc lưu thông hai chiều, đó là cầu Bình Thủy. Hiện nay cầu đúc Bình Thủy thuộc phường Bình Thủy, nhưng trước đây thuộc xã Long Tuyền. Hai tiếng Bình Thủy - Long Tuyền gắn liền nhau từ những giai thoại truyền miệng, sau đó được ghi chép lại qua nhiều đời, đã bổ sung cho một vùng đất quê hương Cần Thơ thêm chiều dài lịch sử đáng ghi nhớ. Tài liệu cũ ghi rằng, làng Long Tuyền có từ đời Hậu Lê, đến đời Gia Long thứ 15 (Bính tý 1816) thì long cuộc trổ ra, phong quang ngày càng xinh đẹp, trở thành một nơi hình thắng đáng kể.


Thuở xa xưa, Long Tuyền có tên là Bình Hưng, sau đổi lại là Bình Phó. Nguồn nước sông trong lành suốt khu vực từ Cồn Linh cho đến xã Thới Bình, sông sâu mà không có sóng to gió lớn. Theo tư liệu tại Bảo tàng Hậu Giang (Cần Thơ), trào Tự Đức thứ 5 (1852), quan Khâm sai đại thần Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần thú trên một chiếc hải thuyền vừa đến Cồn Linh thì gặp một trận cuồng phong dữ dội, cả thuyền ai nấy hoảng sợ. Quan khâm sai cho thuyền nấp vào con rạch yên ổn, qua cơn sóng to gió lớn, quan đại thần bèn mở cuộc vui chơi ba ngày cùng dân làng và đổi tên nơi nầy là Bình Thủy.

Đổi tên gọi Bình Thủy vì quan Khâm sai Huỳnh Mẫn Đạt nhận xét thấy địa thế nầy tốt đẹp, yên lành; ngọn rạch thường yên lặng, không hề có sóng to gió lớn, hoa màu thịnh vượng, dân lạc nghiệp an cư.

Năm Giáp thìn 1906, trong một buổi họp mời đông đủ thân hào nhân sĩ tại công sở bàn việc đổi tên làng, Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận (người làng Bình Thủy) đã đề nghị : “Cuộc đất chúng ta đang ở rất tốt. Con rạch thì nguồn nước chảy uốn khúc như rồng nằm, miệng ngậm trái châu là cồn án ngang rạch. Lại có bốn chân : hai chân trước là hình thế rạch Ngã Tư lớn và Ngã Tư bé ngang nhau; hai chân sau là rạch Miếu Ông và rạch Cái Tắc ngang nhau. Cái đuôi uốn khúc nằm vắt qua làng Giai Xuân. Địa hình địa cuộc đã trổ ra như thế, tôi muốn đặt tên làng lại là Long Tuyền..". Cai tổng Lê Văn Noãn phụ họa: "chữ Long Tuyền thật đầy ý vị. Nhưng hai chữ Bình Thủy cũng khá hay. Ý tôi muốn giữ lại cái tên Bình Thủy cho chợ nầy, và dùng chữ Long Tuyền để chỉ toàn xã thì chẳng gì bằng...".

Mọi người có mặt vỗ tay đồng ý. Và vùng đất nầy mang tên Bình Thủy - Long Tuyền mãi đến sau nầy.

Về sau, do tình hình phát triển mở rộng thành phố Cần Thơ, và do dân cư đông đúc, địa giới hành chánh được phân bổ lại nên Long Tuyền - Bình Thủy được tách ra và lập nên phường xã riêng: Phường Bình Thủy và xã Long Tuyền.

Đất Bình Thủy - Long Tuyền xuất hiện "Tao đàn Bà Đồ”sớm nhất ở Hậu Giang (năm 1833), là một tụ điểm văn hóa kiểu Chiêu Anh Các ở Hà Tiên. Nơi đó, cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa được sinh ra - một nhà thơ khoa bảng, với lòng yêu nước nồng nàn, đã giữ vẹn tiết nghĩa trung trinh với dân với nước, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm; cụ đã từng cất cao chén rượu, ngẩng nhìn trăng để ngâm lên những câu thơ chính khí :

Râu tóc xúi ta già

Lòng dạ khó bày ra

Đường đời bùn nước dẫy

Uống rượu rồi ta ca...

(T.N. phóng dịch)

Đất Long Tuyền - Bình Thủy cũng là nơi họp mặt những người yêu nước tiếng tăm, trong đó có cụ Cử nhân Phan Văn Trị.

Người dân Bình Thủy - Long Tuyền cần cù lao động, lam lũ bên thửa ruộng, mảnh vườn. Những cây trái đặc sản như bưởi, cam, quít, xoài, sapôchê, mận hồng đào, dừa xiêm, dừa Tam Quan... hằng năm họp mặt trên các chợ thành phố và khắp nơi, nói lên sự sung túc của một miền đất lành, bình yên, màu mỡ... Bình Thủy Long Tuyền dù có lúc phải trải qua biết bao phong ba bão táp của chiến tranh, nhưng vẫn kiên cường với truyền thống dựng nước và giữ nước của tiền nhân. Địa danh Bình Thủy Long Tuyền mãi mãi gắn liền nhau, đi vào lòng người đậm sâu và bền vững như hai tiếng Cần Thơ.


II. ĐÌNH THẦN BÌNH THỦY



Vừa qua dốc cầu Bình Thủy, hướng về tay phải, du khách sẽ thấy ngay một ngôi đình cổ, trang nghiêm, lộng lẫy, đủ mọi nghi tiết, xây cất hoàn chỉnh vào năm 1911; chánh điện uy nghi, sắc thần do vua Tự Đức phong ngày 29-11 âm lịch, năm thứ 15 (tức năm Nhâm tuất 1862, nhằm ngày 18-01-1863 dương lịch (có tài liệu cho rằng, vua Tự Đức phong sắc thần cho làng Bình Thuỷ (bổn cảnh thành hoàng), 29-11-1852 Nhâm tí, nhằm ngày 9-1-1853 dương lịch). nhưng tra cứu theo niên biểu Việt Nam (NXB.KHXH 1984) nơi trang 89 và 91 thì ngày 9-1-1853 nhằm ngày mùng 1 tháng 12 ăm lịch chớ không phải 29-11. Tài liệu chúng tôi sử dụng trong bài có thêm yếu tố : ngày 29-11 năm Tự Đức thứ 15, tức là Tự Đức (1848-1883) nguyên niên năm 1848 thêm 15 năm nữa là năm Nhâm tuất 1862 nhằm ngày 18-1-1863): đó là Đình thần Bình Thủy.

Sách cũ chép rằng, xưa kia ngôi đình cất bằng lá tại vàm sông, người có trách nhiệm trông nom đình thần đầu tiên là ông Hồ Văn Được, con ông Hồ Văn Thanh. Người xướng xuất việc cất ngôi đình nầy đầu tiên là Tri phủ Nguyễn Đức Nhuận và Cai tổng Lê Văn Noãn. Năm 1904, ngôi đình sắp sập, quan Tri phủ đề nghị cất lại ở Ngã Tư bé, trên sở đất rộng hơn hai mẫu, nhưng chẳng may quan Tri phủ qua đời, công việc phải tạm ngưng. Mãi đến năm 1909, Hương cả Nguyễn Doãn Cung cùng sui gia là Hương chủ Dương Lập Cang họp các hương chức hội tề, thương gia, điền chủ.... bày cuộc cầu cơ hỏi ý linh thần, sau đó đồng tán thành việc xây ngôi đình tại chỗ cũ. Công việc hoàn tất năm 1911 và tồn tại đến ngày nay.

Hằng năm đáo lệ kỳ yên, hai lần cúng tế: Lễ Thượng Điền suốt ba ngày 12, 13 và 14 tháng Tư âm lịch; lễ Hạ Điền vào hai ngày 14, 15 tháng Chạp. Đây là một dịp để ghi nhớ công ơn các bậc “tiền hiền khai khẩn, hậu điền khai cơỢ, để nhắc nhở con cháu xác định rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ quê hương xứ sở cho xứng đáng với mồ hôi, công khó của ông cha.

Những ngày lễ hội của người dân Bình Thủy Long Tuyền, cũng là dịp nghỉ ngơi, chúc mừng nhau vì được mùa, no ấm,. Dịp tế lễ trước đây có tổ chức các cuộc thi làm bánh mứt để khuyến khích phụ nữ trau giồi nữ công. Trong những đêm trăng gần giữa tháng Tư âm lịch, ngoài đình rộn ràng sênh phách, người đi trên đường chen chân không lọt, áo quần còn thơm mùi hồ mới, gặp nhau nói cười vui vẻ, không khí còn phấn khởi, hân hoan hơn cả mùa Xuân đón Tết. Một điều lạ lùng là thường trong các đêm ấy trời trong trăng sáng, dù có thể suốt ngày mưa tầm tã không tìm thấy ánh nắng mặt trời. Mấy mươi năm sống ở Cần Thơ, tôi đã chứng kiến những đêm hội tháng Tư đầy nét độc đáo và lạ lùng như vậy.

Những năm chiến tranh chống Pháp (1945-1946), thực dân Pháp chiếm Đình thần làm căn cứ, đập phá chánh điện và lấy một số đồ cổ giá trị. Sắc thần phải đem về chùa Nam Nhã tạm thờ. Năm 1955 đình thần mới khôi phục lại vẻ trang nghiêm. Sắc thần được rước về thờ tại đình như cũ.

Qua công tác kiểm kê để bảo vệ di tích, hiện tại đình còn những di vật như sau:

"Một tờ sắc "Thượng đẳng phúc thần”do vua Tự Đức phong, 9 bàn hương án thờ Thượng đế, Đinh công chánh... 26 bộ lư nhỏ,, 11 bài vị, 2 tượng Tả chiêu, Hữu mục, 8 bộ binh khí cổ gồm 53 đao, thương, kích, mác..., 1 trống, 1 mõ, 16 bàn hương án thờ các vị anh hùng dân tộc như Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Bùi Hữu Nghĩa..., 3 long xa phụng tán còn tốt (Theo số liệu của Lê Ngọc Viễn).

Đình thần Bình Thủy có lối kiến trúc khác với các ngôi đình ở miền Bắc: nhà trước và sau đều có hình vuông nên chiều nào cũng có 6 hàng cột. Cột lớn nhất có chu vi 1 mét 20, nhỏ nhất 0 mét 83; cao theo thứ tự 3 mét 20, 4 mét 63 và 6 mét 50. Các chân cột gie ra lớn hơn đỉnh cột, tạo thế chống đỡ vững chắc.

Về mặt trang trí nội ngoại thất đều có những sắc thái riêng mà về mặt kiến trúc không được thuần nhất, cho thấy lãnh vực nầy chịu ảnh hưởng của nhiều dòng nghệ thuật khác nhau. Chẳng hạn, từ ngoài nhìn vào ngôi đình giống chùa Ông Bổn của người Hoa, bởi các họa tiết giống như các chùa nầy. Riêng mặt trước lại giống kiểu nhà Pháp. Tuy nhiên các họa tiết trang trí bên trong còn giữ nguyên được sắc thái dân tộc, tinh thần dân tộc Việt Nam trong các chủ đề và phong cách kiến trúc thể hiện: các bức chạm trổ, hoành phi, liễn, là những cái đẹp nhất của ngôi đình.

Hiện nay, di tích ở mặt trước (cả cổng tam quan) còn tốt, riêng chánh điện bị hư hại khá nhiều, dãy tường phía trước sụp đổ, các dãy tường khác bị nứt, các kiến trúc chất liệu cây gỗ như kèo, cột... bị mối; ngói lợp bị bể nhiều nên mưa dột làm ảnh hưởng đến các kiến trúc bên trong. Ngành bảo tồn bảo tàng thành phố trong nước đã lập sơ đồ kiến thiết và trùng tu ngôi đình, bởi đây là một di sản văn hóa dân tộc được xây dựng hàng thế kỷ trước, có giá trị trong nghệ thuật kiến trúc và lưu dấu công lao mở đất và giữ đất của người xưa.

Sáng ngày 3-10-1989, chánh quyền tỉnh, thành phố và phường Bình Thủy đã tổ chức lễ tiếp nhận quyết định của Bộ Văn hoá Hà Nội "công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Thủy", đưa đình Bình Thủy thật sự trở thành tài sản văn hoá của toàn dân, đây cũng là một trong 14 di tích quốc gia được chánh quyền Hà Nội xếp hạng.

Bình Thủy - Long Tuyền từ năm 1833 có sự xuất hiện Tao Đàn Bà Đồ do bà Nguyễn Thị Nguyệt sáng lập, nơi góp mặt các danh nho tại xóm Bà Đồ, nằm trong vùng Bình Thủy khi xưa, thuộc xã Long Tuyền, cách Cần Thơ 5 cây số ngàn theo lộ trình đi Long Xuyên. Địa danh xóm Bà Đồ do đâu mà có? Phải chăng nơi đây đã từng có ông đồ lừng lẫy tiếng tăm, chẳng may khuất sớm, bà Đồ thủ tiết nêu gương, làm rạng thêm danh chồng, nên người trong vùng còn mãi tưởng niệm? Dầu sao hai tiếng sinh đồ, nói lên một thành phần hữu học trong xã hội. Nơi đâu có ông đồ thì có phong khí văn hoá, chẳng khác nào ngày nay nơi nào có thầy giáo, có trường học thì mọi điều văn vẻ hẳn có tốt đẹp hơn các nơi khác. Chọn địa điểm xóm Bà Đồ làm nơi thành lập Tao Đàn, các cụ đã đem thinh danh tô điểm cho xóm nầy trở thành bất hủ, và chứng tỏ cho các thế hệ sau biết rằng khi xưa nơi Bình Thủy - Long Tuyền từng có một xóm cực kỳ thanh tú văn nhã. Điều có thể quả quyết, khi xưa Hà Tiên có Chiêu Anh Các, Gia Định có Bình Dương Thi Xã, Bạch Mai Thi Xã lừng danh thì Tao Đàn của các cụ văn hào miền Tây nơi xóm Bà Đồ tưởng cũng nên nhắc đến phần nào. Chính các vị cao niên ở Bình Thủy từ thập niên sáu mươi như cụ Hà Thủy Nguyễn Sanh Kim, Nguyễn Tài Năng... đã nhắc cho chúng tôi biết về xóm Bà Đồ mà ngày trước các nhà thơ nổi danh nhiều dịp lui tới nơi đây như Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa, Cử nhân Phan Văn Trị, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt cáo quan về hưu ở Hà Tiên, cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu ở Ba Tri, cụ Cử Thạnh, Phan Hiến Đạo ở Định Tường...

Nhớ lại những năm đầu 1975, lúc tôi bị vào trại tù tập trung, bạn tôi, nhà thơ - nhà giáo Lê Trúc Khanh có dịp kể lại rằng :

"...Có lúc tiếng sênh phách chừng như im bặt. Đường quê không còn bóng người chen chúc, lũ lượt trong những đêm tháng Tư nữa. Lễ Kỳ yên được tổ chức vội vàng, chiếu lệ theo yêu cầu của địa phương và bị xem gần như một kiểu "mê tín dị đoan". Người dân Bình Thủy chắc cũng ngậm ngùi vì "lực bất tòng tâm". Với riêng tôi, cảm thấy như có chút gì hụt hẫng, mất mát không rõ nguyên nhân khi hoài niệm về quá vãng :

Anh về đây trắng một vùng mưa muộn

Dòng sông quen tăm tắp miệt Long Tuyền

Trời chưa tối, bỗng chừng nghe trở lạnh

Xe qua cầu mang vạn nỗi niềm riêng...

Nhưng may mắn thay, mấy năm gần đây, ngày lễ Kỳ yên, đình thần Bình Thủy - Long Tuyền lại trở về với không khí năm xưa. Làm sao ta không nao nức rộn ràng khi được dự buổi họp hương lý, các cụ già tóc bạc phơ, sôi nổi bàn nhau mang lễ vật đến cúng thần. Ta bồi hồi vì bộ lễ phục áo dài khăn đóng chen trong những tà áo nghìn tía muôn hồng và khu võ ca bên đình vẫn rộn ràng sênh phách. Ta hân hoan đọc lại tờ sắc “Thượng đẳng phúc thần”bằng cả nỗi tự hào về một vùng địa linh nhân kiệt (...). Cây trái vẫn tiếp tục oằn sai, lúa tiếp tục trúng mùa, và con sông Long Tuyền mãi mãi in bóng những hàng dừa, hàng cau quê hương yêu dấu. Ngày hội còn là sự khẳng định cho điều “quan nhất thời, dân vạn đại" mà người xưa từng nhắc nhở chúng ta..."

Nói về "Ngôi đình làng, mái chùa xưa", nhà văn Sơn Nam cho rằng : "Đình làng còn là nơi tổ chức hội lễ dân gian, với hát hội, thi đua võ thuật, đá gà, tức là những môn giải trí truyền thống. Dịp cúng đình, thời trước, dân làng thi tay nghề nấu nướng, làm bánh khéo. Mâm xôi, quả bánh phải đạt “đỉnh caoỢ, thêm nghệ thuật trang trí dân gian, tiêu biểu là bộ môn "chửng ngh": Mâm trái cây, con phụng tạo hình với trái thơm, vách trang trí với bức tranh kết bằng vỏ tràm, mo nang, yếm dừa...

Đình chùa hãy còn tác dụng nhắc nhở tình nghĩa, sự trung tín, cách sống làm lành lánh dữ. Đứng trước bàn thờ, chưa chắc có kẻ dám ở trần, ngậm thuốc có cán, hoặc ăn nói tục (...). Ý thức dân tộc đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người, không gì xóa được. Đó là điều đáng trân trọng, cần được bồi dưỡng. Khi nghe tiếng trống đình, tiếng chuông chùa, thấy cây cổ thụ, thấy bụi trúc xinh xinh, ta vẫn còn xúc động, mặc dù đang sống trong thời buổi có đàn "ọt-gân", đồ dùng trong nhà phần lớn là đồ điện tử, nhựa hoá học ! Uống nước nhớ nguồn.

Xin được mượn những lời trên để tạm kết bài viết ngắn "Bình Thủy - Long Tuyền, một vùng địa linh nhân kiệt, và mấy đoạn viết rời về quê hương trong trí nhớ. Bởi vì... "Dù đi cuối đất cùng trời, Cũng không quên được những lời vàng son", cũng như một thi sĩ từng nói: "Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương, nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được”. Hình ảnh quê hương bao giờ cũng nhắc nhớ trong tâm trí tôi.

Theo: L ê Cầ n Th ơ

Nguồn: ptgdtd.com
Comments