VỀ CÂU HÁT TRÊN SÔNG NƯỚC QUÊ TÔI

Không biết tự bao giờ, câu hát ru em đã đi vào tâm khảm, mà mãi đến bây giờ tôi khó thể quên  được. Câu hát ru thực ra là lời lẽ tâm sự của  đôi trai gái yêu nhau, dặn dò nhau, mà chủ yếu là của người con gái nghèo với chàng trai giàu có, yêu thương mình. Cô gái sống trong gia  đình nề nếp, hiểu rõ luân lý đạo đức, tôn trọng lời khuyên:

Ra đi Mẹ có dặn rằng

Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

Thế nhưng, chuyện tình yêu khó mà "băng giá” trong lòng, nên cô gái phải bộc bạch với anh con trai bằng câu hát, mà trên sông nước quê tôi đã đi vào truyền tụng dân gian:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền

Ðừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê...

Thật tình, câu hát chưa phải trí tuệ cao, chỉ bình dị với ngôn ngữ miệt vườn đúng mực của nó, song dễ đi vào lòng người nhờ sự xuất hiện liên tục những địa danh dọc theo sông rạch Cần Thơ suốt gần 17 cây số, đủ cho hai chiếc xuồng chèo cặp kè nhau theo dòng nước lớn ròng thăm dò, hò hát đối đáp, ướm lời chọc ghẹo nhau... ở thời trai trẻ xa xưa. Tôi nghe người lớn kể rằng, vào những năm thập niên 30 của thế kỷ nầy, vùng sông nước quê tôi vào những đêm trăng sáng, các ghe thương hồ, các người đi lại trên sông rạch, nhất là trai gái tuổi cập kê, muốn làm quen nhau, thường tự đặt ra những câu hò, câu hát đối đáp, thách thức, thử tài và... trêu ghẹo, tìm hiểu nhau. Có thể nói, trước cảnh thiên nhiên hữu tình, là đầu mối cho duyên tình trai gái, những điệu hát câu hò thể hiện sự vui tươi thoải mái, có sắc thái đặc biệt... làm phong phú kho tàng văn chương dân gian Nam bộ Việt Nam. Bởi vì, người ta hò đối đáp nhau khi gặp người đồng điệu, đồng tình. Chính đồng điệu đồng tình mà tình yêu phát sinh, đã giúp họ vượt qua gai góc cuộc đời, vượt qua luân lý đạo đức khắc nghiệt trong tư tưởng Khổng Mạnh hàng ngàn năm trước in sâu trong tâm hồn dân tộc. Tình yêu làm cho họ vui sống và đấu tranh bền bỉ hơn, chẳng hạn từ đồng cạn đến đồng sâu, đi cày, đi cấy, để họ có dịp tìm hiểu yêu nhau; hoặc xuôi theo dòng sông để hát hò rồi cảm thương nhau. Những lúc đó, người con gái không ngần ngại tỏ lộ quan điểm chọn người yêu: từ công việc hàng ngày đến nết ăn, nết ở, nết làm thì mới bảo đảm chắc chắn, mới dám tin vào hạnh phúc. Thường thì một cuộc hò đối đáp được gầy đầu, từ người chưa quen tự nhiên trở thành bạn thân, có khi nhờ những cuộc hò đối đáp đó mà nên vợ thành chồng. Hò Thới Lai, hò Cần Thơ, hò Ðồng Tháp, hò Quới Thiện, Gò Công, Rạch Giá, Hà Tiên, Cai Lậy, v.v... phải chăng đã xuất hiện với ý nghĩa như vậy, làm tăng giá trị tinh thần của kho tàng văn học dân gian?
Như tôi vừa viết, câu hò câu hát thể hiện sự vui tươi thoải mái, có sắc thái đặc biệt..., nên chỉ với mấy câu chữ đơn sơ cũng cho thấy được cả một tâm trạng của mỗi con người trong cuộc sống. Chẳng hạn câu hát:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh

......

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?

......

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về Thị Ðội ruột đau chín chiều *

....

________

* Thị Ðội là con kinh đào nối Cờ Ðỏ (địa danh lâu đời của quận Thuận Trung tỉnh Phong Dinh) sang Rạch Giá. câu nầy trong cao dao phổ biến là "Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Cả hai câu đều có ghi trong Ca Dao Giảng Luận của Thuần Phong.

Phải chăng đó là tâm trạng của những cô gái miệt sông Hậu, ở đó có Cần Thơ, Ô Môn, Bình Thủy, Phong Ðiền... nơm nớp lo sợ một ngày nào đó phải từ bỏ gia đình về làm dâu làm vợ ở miệt U Minh, Cà Mau ngút ngàn rừng cây hoang dã, chim kêu vượn hú nao lòng? Dù vậy, khi vào tuổi cập kê, cô gái đôi lúc cũng bộc lộ nỗi lòng mình:

Yêu nhau cởi nón cho nhau

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay!

Hay câu hát nói lên quyết tâm của anh con trai quyết đeo đuổi cô gái:

Yêu nhau anh muốn lại gần

Cầu không tay vịn, anh cũng lần anh đi.

Và:.

Ðường trường nước chảy trong veo

Thương em chẳng nệ mái chèo ngược xuôi...

Thật vậy, trở lại không khí tĩnh lặng trên đây, giữa cảnh sông dài, trời rộng, làng mạc cỏ cây hai bên bờ chìm đắm dưới khói sương, vạn vật như im lìm câm nín trong bóng

trăng nhàn nhạt, một chiếc ghe sau trôi xa, một chiếc xuồng trôi trước còn thấp thoáng, người ta đã cất giọng gọi mời:

Thuyền ai thấp thoáng trong sương

Chờ tôi theo với tỏ tường khúc nôi.

Cũng có khi "tấn công" mạnh bạo, không cần rào đón e dè:

Bớ chiếc thuyền loan

Khoan khoan bớt mái

Ðặng đây tỏ một đôi lời phải trái nghe chơi...

Hoặc:

Thuyền ai chèo trước

Cho tôi lướt đến cùng

Ðêm đã về khuya, trời đất mông lung

Phải chi duyên xích lại cho đỡ não nùng tuyết sương...

Khi xuồng trước chậm lại, ghe sau nhanh lên, họ đã bắt kịp nhau, có khi cả hai song song; mái chèo, mái dầm khua chạm nhau như mở ngõ, mở lời: Cuộc hò đối đáp bắt đầu.

Ðây chèo lơi

Chờ người tri kỷ

Gặp mặt nhau rồi, cho phỉ ước mơ...

Nghe kể rằng, vào thời xa xưa, các đôi trai gái muốn quen nhau rất khó, bởi quan niệm “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”. Họ chỉ lợi dụng những dịp cùng ra đồng cấy lúa hay cùng đi trên sông nước để thách nhau hò đối đáp... rồi quen nhau, rồi yêu nhau... qua sự nể phục nhau, tin tưởng nhau trong sự tương kính đúng mực. Chẳng hạn anh con trai khi thấy được cô gái đã biết mình giàu tiền lắm của, có thể chấp nhận đi đến hôn nhân để nương nhờ tấm thân mai hậu, sau những câu hò xướng hoạ đầy hấp dẫn, nên anh đã "hứa" sẽ chu cấp lúa gạo cho cả gia đình cô gái. Cô gái đâu phải tay vừa, đã "vẽ" đường đi nước bước cho anh con trai thật ý nhị... và vô cùng thực tế:

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền

Ðừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê...

Hết sức thực tế, bởi cho bạc cho tiền với số lớn cũng có thể dễ dàng trao tay, dễ dàng cất giấu kín; còn cho lúa gạo thì sờ sờ ra đó, liệu có che được mắt người xung quanh, che mắt thế gian không?

Mượn lời ca tiếng hát để bày tỏ lòng nhau, đã nhiều giấy mực ghi lại trên dòng văn học dân gian Việt Nam, nhưng với miền sông nước Hậu Giang, nó có nét riêng biệt mà đối với tôi thật hằn sâu dấu ấn khó phai. Ðặc biệt, mượn câu ngắn gọn lồng trong một chuỗi văn chương miệt vườn thật đơn sơ, mộc mạc nhưng đậm nét văn hoá như vậy, đúng là ông cha ta từ ngày xưa đã một thời cực thịnh trong sinh hoạt văn hoá.

Với câu hát đối đáp trên sông nước quê tôi vừa kể trên, về sau có nơi đã biến ra một hướng khác, không còn tươi mát, mà trở nên dí dỏm, ghẹo chọc... không phải đối tượng mình muốn nói, mà lại là trung gian cho cuộc gặp gỡ, hẹn hò. Ta thử nghe:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Nếu có thương nhau xin AI ÐÓ đừng lo

Ðêm hôm tăm tối có CÔ LÁI ÐÒ đưa sang...

Rõ ràng sự biến thể nầy, biến cả mục đích ý nghĩa của câu hát: bây giờ sự chọc ghẹo lại quay sang cô lái đò chớ không phải riêng cô thôn nữ nào đó mà chàng trai muốn ướm hỏi. Vậy thì trong kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam, chúng ta cố gắng sưu tập lại những trường hợp biến thể như vậy, để một dịp nào đó, hệ thống đầy đủ... sẽ là nguồn lưu trữ quý báu của kho tàng văn học truyền lại cho thế hệ mai sau.

Những lời ru, những câu hò đối đáp, những câu phong dao, tục ngữ, ca dao..., kể cả ca dao mới, rất cần thiết cho đời sống văn hoá của chúng ta. Nghiên cứu qua các điệu hò Nam bộ Việt Nam, chúng ta thấy cách sử dụng văn chương, tôi rất đồng ý với anh Nguyễn Hữu Hiệp ở Chợ Mới An Giang, trong đó có thể chia ra ba loại chính là HÒ MÉP, HÒ VĂN và HÒ TRUYỆN. Xin các bậc cao minh cho phép tôi được góp phần thiển ý của mình:

Hò MÉP được xem là tiêu biểu, trung thành cho tiếng nói của dân gian trước ngoại cảnh. Nó đơn sơ, mộc mạc bởi không dùng điển tích và không mang nặng thành ngữ Hán Việt khó hiểu. Loại hò nầy dễ làm rung cảm người nghe. Ví dụ như câu hát "Cái Răng, Ba Láng..." trên sông nước quê tôi, hoặc một vài thí dụ khác:

Con chim nho nhỏ

Cái lông nó đỏ

Cái mỏ nó vàng

Nó kêu người ở trong làng

Ðừng ham lãnh lụa phụ phàng vải bô.

...

Chiếc buồm nho nhỏ

Ngọn gió hiu hiu...

Nay nước thủy triều

Mai lại nước rươi...

Sông sâu sóng cả em ơi!

Chờ cho sóng lặng,

Buồm xuôi, ta xuôi cùng.

Trót đa mang vào kiếp bềnh bồng

Xuống ghềnh, lên thác,

Một lòng ta thương nhau...

...

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

...

Nước chảy lờ đờ, đôi bờ xuôi ngược,

Ðường đi non nước rộng rãi, thênh thang,

Ta vui đi khắp xóm làng,

Mặc cho chớp biển, mưa ngàn vẫn vui.

....

Hò VĂN là dùng những câu văn trong sách Nho ghép vào câu hò câu hát. Loại nầy các tác giả dân gian dễ phạm sai lầm, những nặng nề của từ ngữ. Dĩ nhiên ban đầu loại nầy phải xuất phát từ những người có chút học vấn, có biết đọc được sách vở thánh hiền. Dù vậy trong kho tàng văn học dân gian cũng xuất hiện khá nhiều câu giá trị:

Cửu hạn phùng cam võ

Tha hương ngộ cố tri

Tình cờ mà gặp mấy khi

Hỏi thăm thục nữ giai kỳ định chưa?

Hoặc:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Anh có thương em thì kết bạn cùng

Anh đừng thương vội, nửa chừng bỏ em!

Hay:

Sách có chữ "Ðồng thanh tương ứng"

Lại có câu "Ðồng khí tương cầu"

Rủi khi mưa gió mặc dầu,

Lựa nơi có nghĩa, anh hầu kết duyên!

Hò TRUYỆN ảnh hưởng luân lý trong truyện Tàu, truyện Ta, người ta dùng để xa gần, cao thấp với nhau. Một vài câu hò truyện chứa đựng nhiều việc, nhiều nhân vật... nói rõ được tinh thần chuộng lễ nghi, tiết tháo của dân gian, chắc chắn xuất phát từ những người có học chữ, đọc sách và lưu truyền rộng ra trở thành quen thuộc trong cuộc sống, chẳng hạn:

Chẳng thà em chịu đói chịu rách

Học theo cách Bà Mạnh, Bà Khương

Không thèm như con Võ Hậu đời Ðường

Làm cho bại hoại cang thường hư danh.

Hoặc:

Anh tỷ phận anh

Chẳng thà ở lều tranh như Thầy Tăng, Thầy Lộ

Chớ không hâm mộ như Vương Khải, Thạch Sùng

Ðạo người giữ vẹn cơ cùng sá bao!

Hay:

Xin anh nghe em hát

Ông không giựt sao kêu bằng Dực Ðức?

Ông rất Miêng sao gọi Khổng Miêng

(Khổng Minh)

Truyện xưa Tam Quốc còn truyền

Anh mà đối đặng, bạn hiền ngợi khen...

...

Thấy ai xô mà kêu Tề Ngã?

Thấy ai kéo mà gọi Phấn Trì?

Ðiển xưa sách Thánh còn ghi

Bớ em ơi... anh đây đối đặng, em thì đẹp không?

...

Bạc với vàng còn đen còn đỏ

Ðôi đứa mình còn nhỏ thương nhiều

Vừa nghe tiếng em là anh muốn như Kim Trọng,

thương chị Thúy Kiều thuở xưa!

v.v...

Xuyên qua một số câu hò đối đáp trích dẫn cho thấy sự phong phú trong khả năng sáng tác của dân gian Nam bộ nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung. Họ còn rất dồi dào trong tình cảm, bén nhạy với phản ứng có thể kéo dài mãi theo bước đường dựng nước và giữ nước của cha ông, chừng như không bao giờ chấm dứt. Và, câu hát "Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Ðiền...", được cải biên theo từng thời gian... còn lưu truyền trên sông nước quê tôi là một dẫn dụ cho sự phong phú, đa dạng của dòng văn chương dân gian Việt Nam chúng ta.


Dù sống ở đâu, mỗi khi nhớ về quê hương là chúng ta nhớ lại tất cả những nét đẹp đáng yêu, những kỷ niệm thấm đậm mồ hôi, nước mắt... có khi bằng cả máu xương của nhiều thế hệ. Phải chăng đó chính là HƯƠNG HOA ÐẤT NƯỚC đáng trân trọng giữ gìn?

 

Theo: LeCanTho

Nguồn:ptgdtd.com

Comments